Hội chứng Tây sợ Tết (The terror of Tết)

Joe Ruelle, trans. Cameron Shingleton

THE TERROR OF TẾT

When we get asked to do interviews about Tết in the Vietnamese press, most Westerners make bland comments. About the warm atmosphere. About the delicious food. About how friendly people are. You could say we’re limited in what we can say by two things: first by what we actually know about Tết, secondly by what we think Vietnamese people want to hear.

And if the interview is in Vietnamese to boot, then that creates an extra problem – there’s a limit to what we know how to say. Normally it’s because we don’t have the vocab or we’re not fluent yet. Even if we know what Tết’s all about, we still can’t explain it in Vietnamese. So we fall back on the same old clichés. Tết’s fun. The food’s great. And so on.

The fact is a lot of Westerners find Tết scary. I’d say I find it a bit scary myself too. When I hear “Tết Tết Tết Đến Rồi”, my first instinct is to run, run, run. There are Vietnamese who find Tết daunting because of the work involved, plenty of people who complain that they don’t get a minute’s rest during Tết, even after a year of slaving away at work. Well, there are Westerners who feel daunted by Tết too. The whole thing stresses them out, though for different reasons.

*

Khi được báo chí phỏng vấn về Tết Việt Nam, người phương Tây chúng tôi hay nhận xét một cách nhàm chán. “Không khí vui.” “Món ăn ngon.” “Con người thân thiện.” Chúng tôi thường bị hạn chế ở hai điều: điều mình có khả năng cảm nhận và điều mình nghĩ người Việt sẽ thích nghe. Ít ai cảm nhận sâu sắc, ít ai dám nói bánh chưng không ngon.

Khi trả lời phỏng vấn bằng tiếng Việt, chúng tôi bị hạn chế ở một điều nữa – điều mình có khả năng thể hiện. Vốn từ chưa nhiều, cách diễn đạt chưa lưu loát; kể cả có cảm nhận sâu sắc cũng không thành lời cho ra. Thế là Tết vui. Thế là cơm ngon.

Sự thật là nhiều người Tây sợ Tết. Bản thân tôi cũng hơi sợ, nghe bài Tết Tết Tết Đến Rồi, có cảm giác muốn chạy chạy chạy xa rồi. Có nhiều người Việt sợ Tết vì vất vả – “Quanh năm suốt tháng đi làm đã mệt bở hơi tai, lại còn thêm mấy ngày Tết, chả ai được nghỉ ngơi chút nào!” – và có nhiều người Tây sợ Tết vì căng thẳng.

*

THE TERROR OF TURNING INTO A GOLDFISH

Westerners don’t have to live in Vietnam for long to realise what wonderful goldfish they make. They get invited to meetings or drinks, they get asked to come up on stage and hand out prizes. Their main job is to crack a smile and display their white skin.

Our company has a Western consultant. Our family has a Western friend. In more than a few cases, we become logos, slogans, a kind of trademark. And we become less human in the process. People aren’t really that interested in US. They’re focussed on what the Western brand is going to bring in for THEM.

If I say “in more than a few cases”, that doesn’t mean in a lot of cases, just some. But it’s enough to put us on guard. To make us wary of what people want from us.

*

SỢ THÀNH CÁ CẢNH

Người Tây không cần ở Việt Nam lâu mới cảm nhận giá trị cá cảnh của mình. Mời đi họp, rủ đi ăn, bảo lên sân khấu trao giải – vai trò chủ yếu là cười tương và thể hiện làn da trắng.

Công ty ta có chuyên gia là người Tây. Gia đình ta có khách quen là người Tây. Trong không ít trường hợp, chúng tôi thành logo, thành slogan, thành thương hiệu – và mất chất con người. Người ta không thực sự quan tâm đến mình mà chủ yếu tập trung vào những điều thương hiệu đó sẽ mang lại cho họ.

“Không ít” trường hợp thôi, chưa phải nhiều – nhưng đủ để chúng tôi biết cảnh giác, nghi ngờ mục đích của người khác.

*

THE TERROR OF BEING ON SHOW

But what we find most scary perhaps is being the centre of attention. Of being pushed onto stage without having learned our lines. Or without having even seen the script.

Now, Joe. Could you say a few words? (Maybe. Which words?)

Now, Joe. Could you step forward for us? (Maybe. Where do you want me to stand?)

Now, Joe. Could you say hello to this lady? (Maybe. Who is she?)

When invited to Western-style ceremonies, foreign guests normally get to sit back and enjoy themselves, they don’t have to get in on the act. However in Vietnam guests play a more active role, often depending on age or social position.

Plus there are some things they have to do no matter how old they are or what their job is. Stepping up and joining in is what’s expected.

For the few of us who know the language and the way Vietnamese people do things, stepping up is usually an honour, a genuine pleasure. That’s when you’re an actor who knows his part. But for those of us who don’t know Vietnamese and are only starting to get to grips with Vietnamese culture, then being asked to put yourself out there can be tough.

For a simple reason. Because you’re always asking yourself: what if I make a mistake? What if I screw up the whole show?

*

SỢ PHẢI THỂ HIỆN

Có lẽ điều chúng tôi sợ nhất là nguy cơ trỏ thành trung tâm của sự chú ý. Từ cánh gà, chúng tôi bị đẩy ra sân khấu, chưa học thoại, chưa biết vở kịch diễn ra thế nào.

“Anh ơi, anh phát biểu một câu đi!” (câu gì?)

“Anh ơi, anh bước vào trước đi!” (vào đâu?)

“Anh ơi, anh chào bà đi!” (như thế nào?)

Trong các lễ hội phương Tây, khách mời chủ yếu được quan sát và thưởng thức, cưỡi ngựa hoa quả. Nhưng ở Việt Nam, khách mời thường chủ động hơn. Khách ở tuổi A phải làm việc B, ở vị trí Y làm việc Z – còn có một số việc khách dù ở lứa tuổi hoặc vị trí nào cũng phải tham gia thực hiện.

Với người hiểu ngôn ngữ và rành văn hoá (diễn viên thuộc thoại), những việc đó là vinh dự, là niềm vui chung. Nhưng với người chưa giỏi tiếng, chưa hiểu lắm về văn hoá, thì những việc đó có thể là gánh nặng. Biết đâu mình làm hỏng? Biết đâu mình làm sai?

*

THE TERROR OF ERROR

One thing Western visitors are taught about Tết is the influence it has on the year to come. If Tết’s a success, the year that follows will be too. If Tết’s a mess, then . . . of course Tết will be a success, so the year that follows will be great too. Won’t it?!

It’s explained to us in these kinds of simple terms anyway, so we understand it in simple terms.

Now obviously no Westerner would ever want to ruin the year ahead for the Vietnamese people around him. “Take it easy,” Vietnamese people say. But do you know how difficult it is to take it easy when you know that one slip-up could cause a disaster? What if, FOR THE WHOLE OF NEXT YEAR, every time something bad happens, your friend’s whole family pins it on YOU. “Remember New Year’s Day, that Joe guy turned up with a plastic bag of squid? I just knew it was going to be an unlucky year. Of course, he didn’t know what he was doing. But still, it was always going to be a brutal year from that moment. . .”

Western festivities, I note, have a clear-cut start and finish. Their Vietnamese equivalents involve a bigger bet; if you win, you win big, if you lose, you lose heavily.

At Tết, the bet is on the whole 12 months ahead.

*

SỢ LÀM SAI

Một điều khách Tây hay được dạy về Tết Nguyên Đán là sức ảnh hưởng đến năm mới. Tết đẹp, năm tới đẹp. Tết hỏng. . . nói chung Tết đẹp, năm tới đẹp. Người ta giải thích một cách đơn giản, chúng tôi hiểu một cách đơn giản.

Không ai muốn làm hỏng năm tới của ai. “Cứ thoải mái đi!”, người Việt hay nói. Nhưng rất khó thoải mái khi biết một hành động vô tình có thể dẫn đến hậu quả lớn. Biết đâu cả năm tới, mỗi khi có chuyện không hay xảy ra thì gia đình lại nhớ đến mình. “Cái hồi cậu Joe đó mùng Một Tết vác bịch mực khô đến nhà đã biết ngay là xúi quẩy rồi mà. Cậu ta chưa hiểu văn hoá thôi, nhưng . . . rõ là xúi quẩy.”

Một lễ hội phương Tây thường bắt đầu và kết thúc luôn cùng lễ hội đó. Người Việt thích đầu tư rủi ro hơn: thắng thì thắng lớn, thua thì thua nặng, tiền được cá là 12 tháng âm.

*

THE FEAR OF FOOD

It’s a sad fact that many Westerners don’t like the food that Vietnamese eat at Tết. Jellied meats, boiled chicken, bánh chưng – we find them weird, we find them cold, we find them fatty. The plain fact is they’re not to our taste, just as plenty of traditional Western dishes are not to the taste of many Vietnamese people. Who, like us, dutifully smile and ask for more pumpkin pie, even though deep down the pumpkin pie makes them want to gag.

Whether we like it or not, the jellied meats, the boiled chicken, the bánh chưng will APPEAR in our bowls as if by magic. And because we’re considered special guests, everyone at the table will be hanging on our reactions, eager to note what we like best. Of course some of us will pretend to like the very dishes we find hardest to swallow: the greater the fear, the broader the grin. And so precisely those hardest to swallow morsels will KEEP APPEARING in our bowls by a related miracle of Vietnamese hospitality.

*

SỢ PHẢI ĂN

Sự thật phũ phàng là nhiều người Tây thấy các món Tết Việt Nam không ngon. Thịt đông, gà luộc, bánh chưng. Lạ quá, lạnh quá, nhiều mỡ lắm. Đơn giản các món ấy không phù hợp với lưỡi của họ, cũng như nhiều món truyền thống của Tây không phù hợp với lưỡi của không ít người Việt – mặc dù thấy bánh nướng bí ngô không ngon chút nào nhưng vẫn cười tươi, xin thêm miếng: “It’s delicious!”

Muốn hay không, các miếng, sợi và chiếc sẽ xuất hiện trong bát theo phép màu kỳ diệu của văn hoá Việt Nam. Vì chúng tôi là những khách mời đặc biệt nên cả nhà sẽ xem kỹ chúng tôi cảm nhận như thế nào, thích món gì nhất. Tất nhiên những món khó ăn nhất, chúng tôi sẽ giả vờ thích ăn nhất (ăn càng sợ, cười càng to). Thế là các miếng, sợi và chiếc CỦA CHÍNH MÓN ĂN ĐÓ sẽ tiếp tục xuất hiện trong bát theo phép màu kỳ diệu của ma xó xã giao.

*

THE TERROR OF BEING ALONE IN A CROWD

Let me divide the festivities of different cultures into two rough types: festivals that revolve around actions and festivals that revolve around creating a mood through words. New Year in Thailand emphasises activity: throwing flowers and splashing water are two things that don’t require the assistance of language. A foreigner who doesn’t know Thai can join in the fun without further ado. Of course the Thais also have certain customs that require deeper cultural knowledge. My point is they have some customs that foreigners straight off the plane can get into without any trouble at all.

When they’re welcoming the return of spring at Tết, Vietnamese don’t splash water around, they splash around words. They pay each other visits, they wish each other well, they welcome back relatives and they sing their lungs out until late into the night. What Vietnamese people DO at Tết in other words depends on LANGUAGE. So if you don’t know Vietnamese, it’s hard to join in. You might say it’s like at the movies; you can still watch an action movie if you can’t understand the words, but if you try watching a psycho-drama, you’re probably going to be wriggling in your seat or checking the time (or texting your ex) within 5 minutes.

Some Vietnamese people I guess think that if they’ve invited you politely, served you their best food and looked you affably in the eye, then they’ve pretty much guaranteed you a good time. The fact is if they did NONE of those things, but instead just patiently explained what’s going on, then their Western guests would feel much more welcome and at ease.

Think about it. Tết is a time when Vietnamese laugh together. But if you don’t understand why everyone around you is laughing, then you mightn’t feel happy. You might just feel like the odd one out.

On big occasions, when everyone’s in a good mood, Vietnamese sometimes forget that the Westerner sitting opposite them doesn’t understand Vietnamese. Of course, it’s the responsibility of a guest in a foreign land to learn the language of the locals and something of the customs. But that takes time. So the person who’s invited them has a responsibility too: to make it a little easier for them to “understand the script” and hence enjoy the show.

The key is to be careful with the way you invite people; big friendly gestures are never going to bridge the language gap, and at Tết time, understanding the Vietnamese language is a big deal.

*

SỢ CÔ LẬP GIỮA ĐÁM ĐÔNG

Tôi chia các lễ hội văn hoá thành hai loại: lễ hội hành động và lễ hội tâm lý. Tết Thái là lễ hội hành động. Té nước và ném hoa là hai việc không cần sự hỗ trợ của ngôn ngữ; một người không biết tiếng có thể làm cùng người dân và thấy vui. Tất nhiên có những phong tục đòi hỏi sự hiểu biết văn hoá sâu; nhưng bên cạnh đó có những phong tục hết sức “dễ chơi” đối với du khách mới sang.

Đón xuân về, người Việt không té nước mà té chữ. Thăm, chúc, đón, hát – những động từ gắn bó nhất với Tết Việt Nam dựa trên ngôn ngữ. Vì thế, không biết tiếng là hơi khó tham gia. Phim hàng động, nếu không biết tiếng thì vẫn xem được; phim tâm lý, nếu không biết tiếng thì cựa quậy trên ghế, nhìn đồng hồ, nhắn tin cho người yêu cũ.

Trong suy nghĩ của một số người Việt, đã mời đàng hoàng, đã xếp vị trí tốt, đã gắp miếng ngon, đã thể hiện sự quý mến và tình cảm bằng ánh mắt – là đủ để khách Tây cảm thấy vui. Sự thật là nếu không làm bất cứ một việc nào như thế mà đơn giản giải thích kỹ càng về chuyện đang xảy ra thì khách sẽ vui hơn. (Nghe người xung quanh cười mà không hiểu vì sao là cảm giác rất căng thẳng.)

Những lúc đông vui nhất, người Việt hay quên khách Tây ngồi đối diện chưa hiểu tiếng. Người khách ở đâu có trách nhiệm học ngôn ngữ và phong tục của nơi đang ở. Nhưng việc đó mất thời gian. Vậy người mời khách Tây đến nhà chơi cũng có trách nhiệm tạo điều kiện để khách cảm thấy thoải mái và “hiểu phim”. Có nghĩa là phải mời cẩn thận; sự thân thiện không bù được ngôn ngữ, và trong một lễ hội như Tết Việt Nam, ngôn ngữ luôn là chính.

*

I didn’t write this piece because I’m bored with my life, because I’m depressed or because I wanted to make my Vietnamese friends feel bad. It’s just that I know you’ve all seen clips of Westerners praising Tết to the skies. I’m not saying they were being dishonest. Most Westerners in Vietnam do find Tết interesting. For most, joining in the party is a whole lot of fun.

They’re talking about the positives, while I’m talking about the flipside. I guess it’s because I’ve been in Vietnam for many years. Apparently I’m not quite the polite guest I once was any more.

*

Tôi viết bài này không phải vì chán đời, trầm cảm hay muốn làm các bạn cảm thấy áy náy. Đơn giản tôi biết các bạn từng thấy nhiều bài phỏng vấn trong đó các ông bà Tây ca ngợi Tết Việt Nam với những tính từ tích cực nhất. Tôi không nghĩ họ nói dối – với đa số người Tây ở Việt Nam, Tết là dịp lễ thú vị mang lại nhiều niềm vui – nhưng cái gì cũng có hai mặt. Họ sẵn sàng nói về mặt phải, còn tôi, chắc vì ở Việt Nam lâu và không tự coi mình là khách mời lịch sự nữa, rất sẵn sàng nói về mặt trái.


Posted

in

by

Tags:

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *