Sống duy mỹ trong thế giới hiện đại như thế nào?

1. Chủ nghĩa duy mỹ là gì?

Tôi đoán là phần lớn những người muốn trả lời câu hỏi này sẽ nhấn mạnh “yếu tố đẹp” đại khái theo kiểu chủ nghĩa duy mỹ là lòng sùng kính và theo đuổi cái đẹp một cách tập trung, kiên trì, tha thiết. Và theo tôi họ không hề nói sai, chỉ nói sót một chút.

Để có khởi đầu cho cuộc thảo luận về cách sống duy mỹ, chúng ta chỉ cần mở rộng định nghĩa này để nó nói cụ thể về dạng hoạt động của con người mà theo đó chúng ta gặp gỡ cái đẹp ở mức độ tập trung nhất là nghệ thuật: tinh thần duy mỹ bao gồm cả lòng sùng kính và theo đuổi cái đẹp, cùng với kinh nghiệm sâu sắc và gu thẩm mỹ tinh tế đối với tác phẩm nghệ thuật (cả lịch sử lẫn đương đại).

Được coi như là một dạng thái độ hiện sinh, người theo chủ nghĩa duy mỹ quan niệm rằng việc sống có phong cách, có gu thẩm mỹ tinh tế, với cảm giác “nhảy múa với một đôi chân nhẹ nhàng trong đời”, cùng với cảm giác đầy ý nghĩa, là điều then chốt.

Hoặc nói cụ thể hơn về vai trò của con người: chủ nghĩa duy mỹ có niềm tin rằng kinh nghiệm nghệ thuật  (trên hết là kinh nghiệm của những người sáng tạo ra tác phẩm; thứ đến là công việc của những người trình diễn, cắt nghĩa tác phẩm của người khác; thứ ba là trải nghiệm của những người có khả năng cảm thụ nghệ thuật một cách có hiểu biết) phản ánh thân phận của con người một cách rất đặc biệt. Nếu con người phải TỰ TẠO RA cuộc đời của họ, phải sáng tác ra giá trị sống của bản thân(hay ít nhất cắt nghĩa những giá trị truyền kiếp), phải xoay sở để cuộc sống của họ có đủ màu sắc thì cách sống của nghệ sĩ trong một ý nghĩa nào đó là mẫu mực của thử thách hiện sinh ta đương đầu.

Hoặc nói một cách khiêu khích hơn một chút, chủ nghĩa duy mỹ quan niệm rằng nghệ thuật không chỉ tồn tại để giải trí mà còn để biểu hiện những điều cốt lõi về bản thân và về thế giới xung quanh – các khía cạnh của cuộc đời mà những cách tiếp cận thế giới khác như khoa học, lẽ thường hay tín ngưỡng tôn giáo không thể nào san bằng. Như nhà văn Áo Karl Kraus từng nói: Ai có tài năng biến một cách giải quyết thành câu hỏi bí ẩn mới có thể được coi là nghệ sĩ đích thực. Trong một ý nghĩa nào đó nghệ thuật (hoạt động sáng tạo của nghệ sĩ) khiến cho những điều mà theo thói thường được đánh giá cao vì có ích cụ thể cho ta có gì đó đáng ngờ, ngay cả khó hiểu. Tầm quan trọng của nghệ thuật, cái vĩ đại của nó, Kraus nghĩ mà không cần nói, nằm chính ở chỗ đó.

Hoặc nói cao hứng hơn nữa, kinh nghiệm nghệ thuật thậm chí là tinh hoa của cuộc sống, là cách truyền ý nghĩa vừa tinh tế vừa tuyệt đời nhất. Nhà triết học Đức Nietzsche nổi tiếng là người có quan điểm rằng “không có âm nhạc thì cuộc đời chỉ có thể coi là lỗi lầm” (Quả là một quan điểm mà sự phổ biến của văn hoá karaoke ở Việt Nam là minh chứng kỳ lạ!) Và kẻ theo chủ nghĩa duy mỹ có thể nói là người nghĩ rằng châm ngôn của Nietzsche không chỉ đúng với âm nhạc mà còn đúng với các thể loại nghệ thuật nói chung.

Mở rộng tầm nhìn duy mỹ này đến vô cực, trong cuốn sách đầu tiên của mình, Nietzsche đã hăng hái thông báo là “ta coi thế giới như hiện tượng mỹ thuật, nó và tồn tại của con người mới có nguyên do vĩnh viễn”. Có thể cắt nghĩa lời nói cô đọng của Nietzsche thế này: chỉ khi ta coi những điều ta trải nghiệm với con mắt của nhà văn (nhà thơ hay tiểu thuyết gia chắc là tuỳ người), chỉ khi ta xem những cảnh xung quanh với con mắt của hoạ sĩ hay người sáng tác phim – khi và chỉ khi ta ngừng lại không khẳng định bản thân nữa, không nỗ lực thực hiện sự mong muốn, không cố gắng thuyết phục kẻ khác tán thành với ý kiến của mình – thì ta mới sống duy mỹ được. Và chỉ khi ta làm những điều đó, hễ ta chấp nhận cái phù du ở đời như ta chấp nhận cái phù du ở nhân vật trong tiểu thuyết, hình ảnh trên bức tranh hay giai điệu trong bài hát thì cuộc sống mới vừa đẹp, vừa có ý nghĩa thật sự.

Bạn chắc là đã để ý từ tôi lặp đi lặp lại nhiều lần để xác định ý nghĩa của “cuộc sống duy mỹ”, cùng với từ “đẹp”, chính là từ “ý nghĩa”. Có thể nói chủ nghĩa duy mỹ là quan điểm theo đó cái đẹp và cái có ý nghĩa mà ta trải nghiệm được trong nghệ thuật là hai điều xứng đáng để lấy làm nguyên tắc hàng đầu trên đời, là điều có thể được, phải được, phản ánh trong cách riêng của ta, cách sống trên đời của ta.

Sống duy mỹ mới hay, mới ý nghĩa thật. Vậy thì câu hỏi hóc búa là sống duy mỹ cụ thể thế nào?

  1. Nghệ thuật và hiện đại

Để trả lời câu hỏi này thì phải nói chi tiết đến vai trò của nghệ thuật trong thế giới hiện đại, vì nghệ thuật (bất kể cái ảo tưởng cao hứng của Nietzsche) không chỉ có ý nghĩa riêng tư hay hiện sinh mà cũng có ý nghĩa nhất định về mặt xã hội. Cách ta sản xuất và cảm nhận nghệ thuật, cách ta truyền bá và tiêu thụ nó, cách ta được giáo dục để phản ứng với nó, đặt điều kiện cho mỗi một cá nhân có kỳ vọng sống nghệ thuật hơn.

Trong một chừng mực nào đó, nghệ thuật nói riêng và xu hướng “sống cho đẹp” nói chung rõ ràng đang phát triển xung quanh ta. Ở Việt Nam ngày nay (tôi đoán khá chắc) có một số người không nhỏ, đặc biệt là giới trẻ, sẽ tán thành, cũng có thể nhiệt tình, với chuỗi ý kiến tôi mới nêu – đặt giá trị cao vào nghệ thuật và việc hưởng thụ cái đẹp. Xã hội Việt Nam đã có một sự thay đổi khá lớn chắc là ai để ý sẽ nhận ra: câu thành ngữ truyền thống của người Việt theo đó “xướng ca vô loài” không còn đúng với cuộc sống trong thế kỷ 21 này. Trong vòng 5, 6 thập niên qua, những người làm nghề hát và diễn, từ những ngoài lề xã hội, đã chuyển thành đối tượng của sự ngưỡng mộ lạ thường. Họ không hẳn được sùng bái như thiên tài kiểu nhà văn, nhạc sĩ “vĩ đại” của phương Tây từ giữa thế kỷ 19 nhưng họ có một sức hấp dẫn mạnh đối với rất nhiều người, nói không quá đôi khi nó mang tính chất của một giáo phái.

Rõ ràng nghệ thuật đóng một vai trò ngày càng lớn trong xã hội Việt Nam là điều ta có thể chứng kiến khắp nơi.

Hài kịch Việt Nam được trình diễn trên sân khấu như Idecaf hay Paris By Night không chỉ đầy sáng tạo và sinh động. Nó thể hiện óc hài hước rất Việt Nam mà tràn ra nhiều chương trình ti vi phổ biến có đối tượng là quần chúng. Nếu ai đó nghi ngờ giá trị về mặt nghệ thuật hài Việt Nam, tưởng Chí Tài hay Hoài Linh chỉ có khả năng đơn giản là làm hề cho vui, thì chỉ cần ấn nút tạm dừng khi xem clip, quan sát thật kỹ khả năng kiểm soát biểu cảm gương mặt của Chí Tài, cách ẩn dụ đầy cảm hứng của Hoài Linh. (Thực ra chỉ có một điều đáng tiếc ở đây là một nửa những câu nói đùa trong hài kịch Việt Nam thì khó mà dịch sang ngôn ngữ khác cho người nước ngoài hiểu và thưởng thức.)

Trong khi nhiều nhân vật tài giỏi tiếp tục xuất hiện trong giới kịch nghệ Việt Nam, vừa là diễn viên đối mặt với cử toạ, vừa là kịch sĩ hoạt động phía sau hậu trường, âm nhạc gần như trở thành không khí của cuộc sống hàng ngày của người Việt. Một số loại âm nhạc không chỉ có giá trị thương mại mà còn có ý nghĩa về mặt văn hoá nữa, một số khác sử dụng một số loại nhạc lý, nhạc cụ, nhạc tố truyền thống một cách độc đáo, hoặc pha lẫn những yếu tố “nhập khẩu” và địa phương một cách thể hiện những sắc thái ngấm ngầm của đời sống người V dưới hình thức rất mới. Điển hình cho xu hướng thứ nhất có thể nhắc tới Lê Cát Trọng Lý. Lấy ví dụ của xu hướng thứ hai là Suboi, một ca sĩ tái tạo nhạc rap của Mỹ để nói với giọng vừa hăm hở, vừa dí dỏm, về những sự bất bình của một người phụ nữ Sài Gòn trẻ, lớn lên với xung quanh một xã hội gập ghềnh về mặt giá trị.

Xã hội và kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, ngày càng mở, thì nghệ thuật ứng dụng trang trí ngày càng sôi động. Thế hệ 8X, 9X (đến lượt 0X) có cách suy nghĩ cởi mở, rất trong tinh thần duy mỹ, đối với thời trang mà không thể nào chỉ coi là xu hướng chạy theo Hàn Quốc hay biểu hiện mới nhất của tính sính ngoại. Nói chung, những người có trình độ học ngày càng quan tâm đến các yếu tố thẩm mỹ ở môi trường đô thị, bao gồm cả kiến trúc lẫn nội thất. Nhìn xa một chút thì cũng dễ dự đoán là kiến trúc sư và nhà thiết kế Việt Nam mà có tầm nhìn thẩm mỹ tinh tế sẽ có một tương lai sáng sủa. Việc xây nhà năm tầng hình hộp dài và hẹp có thể là thành tích về mặt xã hội nhưng nó không có nghĩa là đã đạt một trình độ mỹ thuật cao, việc sắm được một bộ bàn ghế bằng gỗ quý khổng lồ nặng mấy trăm ký cho phòng khách cũng vậy. Có lẽ một số người thuộc giới trung lưu Việt Nam đã nhận ra điều đó lâu rồi.

Còn những ý kiến nhạt nhẽo về giới trẻ Việt Nam sống ảo đến độ mất phương hướng hay bác bỏ “bản sắc văn hoá Việt” có vẻ khá phiến diện nếu nhìn từ góc độ thẩm mỹ. Những dự án do chính người trẻ Việt Nam tổ chức diễn ra thường xuyên và thu hút sự chú ý của khá nhiều người. Một số dự án, như Vẽ Về Hát Bội (tpHCM) và Dệt Nên Triều Đại (Vietnam Centre) chẳng hạn, có vẻ nhầm mục đích coi hát tuồng truyền thống hay trang phục lịch sử từ góc nhìn âm nhạc và thời trang hiện đại. Một số triển lãm khác, như Sài Gòn Có Mưa, nỗ lực để áp dụng phương pháp kỹ thuật của nghệ thuật hiện thực đương đại để giúp khán giả chủ động trong việc hình dung lại cuộc sống hàng ngày từ một góc nhìn nghệ thuật hơn.

Rõ ràng ở Việt Nam ngày càng nhiều người có sở thích và nhạy cảm với nghệ thuật. Nhưng rõ ràng không kém, hoạt động mỹ thuật tấp nập này chưa liên quan lắm đến tư duy duy mỹ nếu cái này được hiểu là cách nhìn nghệ thuật như tinh hoa cuộc sống con người hay kỳ vọng trở thành người thật am hiểu. Vai trò của nghệ thuật trong xã hội ngày càng rộng thì đúng, nhưng một cái nữa cũng không tranh cãi được là nghệ thuật trong xã hội ngày nay về cơ bản được coi là phương pháp giải trí, còn vẻ đẹp, quần áo đẹp, giọng hát đẹp nhiều khi chỉ được xem là đường đến thành công. Việt Nam có hơi quá nhiều “ngôi sao chín ép”  muốn thương mại hoá tài năng của mình trước khi nó được phát triển, ngay cả khi chưa chắc ca sĩ hay nhà văn nắm chắc những nguyên tắc cơ bản về hài hoà trong âm nhạc hay cách cấu trúc câu. Ở các nước phương Tây có thành ngữ – đời người ngắn ngủi, nghệ thuật trường tồn. Nhưng hiện nay người ta sống càng lâu thì tác phẩm nghệ thuật hấp hối càng trẻ, không hiếm khi có nhân tài chết trước khi ra đời!

Nhìn chủ nghĩa duy mỹ từ góc nhìn xã hội thì xuất hiện một điều cực kỳ nghịch lý liên quan đến văn hoá toàn cầu (đến sự thật là một phần lớn nghệ thuật ta tiếp xúc là sản phẩm mang tính toàn cầu) mà Việt Nam, như những đất nước khác, phải đối phó. Mâu thuẫn là thế này, số lượng và sự đa dạng của nghệ thuật có sẵn trong môi trường sống của ta ngày nay thì lớn một cách chưa từng có trong cả lịch sử loài người. Nhưng trong từng ấy năm lịch sử loài người cũng chưa có thời nào tạo ra lượng sản phẩm nghệ thuật có tính chất nghệ thuật đích thị ít đến như vậy. Trong vòng khoảng một thế kỷ, vai trò của nghệ thuật trong văn hoá con người đã thay đổi gần như hoàn toàn, trên một vài khía cạnh theo hướng tích cực, trên nhiều khía cạnh theo hướng khá đáng ngờ.

Một mặt có vẻ như ngày nay nghệ thuật ở khắp nơi chung quanh ta. Đồ vật nào cũng được thiết kế rất tỉ mỉ theo một phong cách nào đó. Không những nhà cửa, nội thất hay quần áo phải có “style” mà bất cứ sản phẩm nào ta mua được, từ chai nước khử mùi đến gói thức ăn cho mèo, đều được “thẩm mỹ hoá” nhất định. Cái gì cũng phải có nét mỹ thuật đặc biệt; phần lớn những điều mà ông bà ta chắc chỉ nhìn từ góc nhìn thực tế (chỉ cần biết chúng có sử dụng được trên thực tế hay không) đã được tân trang theo chiều duy mỹ một cách triệt để chủ yếu để chúng nổi bật trên thị trường.

Nghệ thuật đã lan từ những nhà xưởng, thư viện, phòng hoà nhạc nhỏ, sân khấu tạm trong đình làng ra cuộc sống hàng ngày ở mỗi chỗ công cộng và riêng tư. Đường phố được trang trí bằng những bảng quảng cáo sặc sỡ, quán cà phê được trang bị tivi và hệ thống âm thanh khuếch đại, chưa nói đến phòng ngủ của ta đầy ắp thiết bị nhằm giúp ta trải nghiệm cái đẹp dưới mọi hình thức.  Đồng thời số lượng tác phẩm nghệ thuật đã được sưu tập, sửa soạn và tích luỹ có thể được tiếp cận trong những thư viện, viện bảo tàng và chỗ công cộng khác đã tăng nhanh chóng. Nếu tính thêm những hình ảnh, clip, đoạn ghi âm và văn bản điện tử được lưu lại trên mạng thì có thể nói số lượng sản phẩm nghệ thuật ta có thể tiếp xúc được đã tăng vô hạn chỉ trong vòng 2, 3 thập niên vừa rồi.

Đến đây thì chắc là sự phân tích nghe hay hay. Nhưng vấn đề ở chỗ là điều kiện sáng tác tác phẩm mới có chiều sâu và sự tinh vi (như nhu cầu của người theo chủ nghĩa duy mỹ) đã trở nên tồi tệ hơn nhiều so với quá khứ. Ý nghĩa của nghệ thuật đã và đang thay đổi đến độ việc giữ lập trường duy mỹ là điều thật khó.

Để hiểu tình trạng khó khăn thì thử đặt một câu hỏi: Những điều kiện xã hội đã tạo ra những tuyệt tác lịch sử có sẵn trong mấy bộ sưu tập và file, ở ngoài đời và trên internet, là gì?

Nói về những hoạ sĩ, thợ chạm, thợ gốm vv thì phải suy nghĩ lại mối quan hệ giữa nghệ thuật và nghề thủ công. Phần lớn những người đã sáng tác ra những tuyệt tác nghệ thuật hiện thực, nghệ thuật trang trí đã học tập và làm việc trong môi trường thủ công, chủ yếu trong nhóm nhỏ, tức giữa một số người đã đắm mình trong một số nhỏ phong cách và những phương pháp kỹ thuật cần thiết để thực hiện chúng.

Nói về những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ xuất sắc đã sáng tác những tác phẩm có tầm cỡ lịch sử thì cái nổi bật nhất từ góc nhìn xã hội là họ không hề sản xuất cho một thị trường đại chúng (chính vì thị trường đại chúng trước nửa thế kỷ 19 chưa được hình thành). Thay vào đó họ sáng tác chủ yếu dựa theo cảm hứng bản thân. Beethoven nổi tiếng là người sáng tác một số tứ tấu đàn dây và bản xônat sáng tạo đến độ nghe có vẻ là loại nhạc jazz, tác phẩm ông ấy “cực đoan hoá” truyền thống âm nhạc châu Âu chỉ vì niềm vui của bản thân. Một ví dụ “con người” hơn, mà điển hình không kém, là Nguyễn Du đã ám chỉ trong những dòng cuối của Truyện Kiều rằng ông ấy đã viết tuyệt tác của ông ấy chủ yếu để giết thời gian. Nghệ sĩ mà không sáng tác vì nhu cầu của riêng mình thì chỉ nghĩ tới sở thích của một số độc giả, khán giả tương đối nhỏ, có thể là người bảo trợ, một số người sành điệu nhất định, một nhóm người bạn hay một cộng đồng xã hội trực tiếp.

Còn nói về tác phẩm của nghệ thuật biểu diễn thì rõ ràng một số dàn diễn viên, đoàn nhạc được nhiều người ưa chuộng, nhưng rõ ràng không kém là gốc rễ của nghệ thuật của họ thường là cộng đồng địa phương. Như hầu hết tất cả những nghệ sĩ “vô loài” trình bày các loại âm nhạc truyền thống của Việt Nam, nghệ sĩ biểu diễn khắp thế giới từng phát triển năng khiếu của họ gần gũi với khán giả, thính giả, vì thế họ mới phản ánh sự nhạy cảm và sở thích của họ tường tận.

Tua thêm vài ba thế kỷ đến tận bây giờ thì phải hỏi lại nghệ thuật thường được sản xuất và cảm thụ như thế nào? Câu trả lời là trong một thế giới đã và đang toàn cầu hoá nhanh, văn hoá về cơ bản chỉ là một trong số những khu vực kinh tế khác nhau. Việc sản xuất nghệ thuật, ít nhất cho thị trường đại chúng, được cấu tạo lại như hoạt động sản xuất các loại hàng hoá khác. Từng giai đoạn của quá trình được tách ra và cử cho một đoàn nhân viên mỹ thuật có kỹ năng chuyên môn. Nếu có thể, toàn bộ quá trình được tổ chức lại để có lợi ích kinh tế theo quy mô. Từng tác phẩm một có tính lỗi thời được hoạch định trước hoặc ít nhất được thay thế nhanh chóng bởi dòng sản phẩm mới. Công việc của những người làm PR không còn là yếu tố “thêm vào” mà là trọng tâm của quá trình sản xuất. (Nói xu hướng này có tác động huỷ hoại làm suy yếu nghệ thuật không đồng nghĩa với việc bác bỏ sự sáng tạo trong công việc của một nhân viên marketing.) Động lực kinh tế thị trường khá dễ nhận ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ “nền công nghiệp” âm nhạc, đến “nền công nghiệp” xuất bản và điện ảnh. (Tính máy móc và kinh tế của phần lớn nghệ thuật hiện đại lộ ra rất rõ trong cụm từ này.)

Những ai mà muốn hiểu những nhân tố quyết định trong nghệ thuật ngày nay cụ thể hơn thì chắc là phải nhờ đến kinh tế học, chứ không phải mỹ học. Một tỷ lệ lớn của âm nhạc, văn chương, phim ảnh và chương trình tivi (cùng với ngày càng nhiều trò chơi điện tử có chất lượng về mặt mỹ thuật) được thiết kế, sản xuất, phân phối và buôn bán bởi tập đoàn truyền thông hay giải trí có phạm vi hoạt động quốc gia hay đa quốc gia. Tập đoàn của Mỹ như Time Warner hay Disney mạnh trong việc sản xuất văn hoá đến mức có thể quyết định thị hiếu thẩm mỹ của hàng tỷ người khắp thế giới. Những nhà sản xuất của Việt Nam thì nhỏ hơn nhưng phần nhiều hoạt động đúng theo những nguyên tắc của kịch sĩ lớn trên thị trường quốc tế.

Còn xét về mục đích, phần lớn nghệ thuật đương đại được tạo ra để có tác động tức thời trên thị trường, không còn nhằm định hình thẩm mỹ cho chân lý hay lý tưởng, không biểu hiện câu chuyện hay huyền thoại thuộc văn hoá truyền tiếp. Và nhất định không đặt câu hỏi tinh tế, bí ẩn kiểu Kraus. Khi được phỏng vấn về động lực của họ, phần lớn những nghệ sĩ, cả ở Việt Nam lẫn ở nước ngoài, thường nói đến đam mê, mặc dù chuyện sáng tác nghệ thuật chủ yếu vì sự cam kết cá nhân hoà hợp được thế nào với việc khéo léo thu hút càng nhiều người tiêu thụ vô danh càng tốt trên thị trường đại chúng thì khá khó hiểu.

Nói chung, phần lớn tác phẩm nghệ thuật được sản xuất dưới những điều kiện kinh tế này có tính chất của một thứ hàng “ăn liền”. Hậu quả là nếu nó không nhanh chóng tìm được thị trường thì khả năng nó bị chìm dần vào quên lãng là rất cao, dù nó có đặc tính thẩm mỹ hay ho thế nào chăng nữa.

  1. Sống duy mỹ trong thế giới hiện đại thế nào?

Vậy thì phải làm sao đây? Phải đối phó như thế nào với tình trạng trớ trêu mà theo đó ta gần như bắt buộc phải hấp thụ rất nhiều nghệ thuật, mặc dù quá ít nghệ thuật được sáng tác vị nghệ thuật và số lượng tác phẩm có sẵn xung quanh ta nhiều đến độ không bao giờ có thể thưởng thức hay hiểu rõ được. Hoặc ta có thể hỏi theo kiểu này: Đương đầu với mâu thuẫn này thế nào nếu mình vẫn là kiểu người theo chủ nghĩa duy mỹ và vẫn cảm thấy, mơ hồ hay sốt sắng, là nghệ thuật có một loại đẹp, ý nghĩa, chiều sâu hay có khi là một sự nhẹ nhàng của riêng nó?

Ta muốn giúp cho xã hội sống thực sự duy mỹ hơn trong thời kỳ toàn cầu hoá thì điều thứ nhất nên làm là củng cố vai trò của ba nhân vật có xu hướng bị lu mờ khi nghệ thuật được sáng tác dưới điều kiện của nền thị trường đại chúng quốc tế.

Nhân vật đầu tiên là người sành điệu, nói đúng hơn là cá nhân nào muốn có sự hiểu biết sâu sắc về một loại nghệ thuật, không khao khát cái mới đến độ không đủ kiên nhẫn để khám phá lại cái cũ, và đủ sáng suốt để ủng hộ những nghệ sĩ mới làm việc thực sự sáng tạo mà không sản xuất những tác phẩm chỉ để dễ tiếp cận với quần chúng. Đường dẫn đến sự thành thạo hơi dài, cần đến việc tận tuỵ đọc hiểu về một (hay nhiều) loại nghệ thuật nhất định, thực hành nó một cách nghiệp dư nhưng cũng nghiêm túc, tiếp xúc nhiều năm với những người có thị hiếu với tầm nhìn giống mình, nhưng có lẽ hơn mình. Thế nhưng điểm đến thì rõ ràng là trở thành người am hiểu về lý thuyết, lịch sử và cách thực hành đương đại của loại nghệ thuật ưa thích một cách mà giúp mình hưởng thụ tác phẩm nghệ thuật đó nhiều hơn. Hoặc nói cụ thể hơn: mục đích là trở thành người có thể trả lời câu hỏi tạo sao mình thích sản phẩm này, không thích sản phẩm kia một cách chi tiết, suy nghĩ, vừa làm nổi bật nhiều điều ở tác phẩm, vừa nói ra nhiều điều hay về bản thân.

Nhân vật thứ hai là nhà phê bình, tức người không chỉ có hiểu biết và thị hiếu thẩm mỹ như người sành điệu mới nói mà còn biết đánh giá những tác phẩm mới một cách tự tin, biết lý giải tường tận, đến độ có thể giúp cho người khác phát triển gu của họ, thậm chí giúp nghệ sĩ có một góc nhìn mới về công việc của mình. Nhìn chung, công việc của nhà phê bình nghệ thuật là điều dễ gây hiểu lầm ở Việt Nam ngày nay. Bài viết nghiêm túc không mang tính hàn lâm về phim hay sách mới rất khó kiếm. Bài review vừa trên báo giấy vừa trên báo mạng có khá nhiều, nhưng xem kỹ thường toàn là thông tin mang tính hoàn toàn chủ quan mà công ty sản xuất bỏ tiền ra để đăng. Trên mạng thì có đủ loại ý kiến về tác phẩm mới, có fan hâm mộ hăng hái khen ngợi, có anti-fan nhiệt tình ném đá, nhưng phản hồi của cư dân mạng thường bát nháo đến mức khó có thể nói về một “văn hoá phê bình” theo đúng nghĩa.

Nhân vật thứ ba là thầy cô giáo chuyên môn, tức một người thành thạo một loại nghệ thuật và có kỹ năng thực tế có thể vừa thúc đẩy năng khiếu của nghệ sĩ trẻ vừa nuôi dưỡng một gu thẩm mỹ tinh tế ở những thế hệ mới. Hiện giờ chương trình dạy những nguyên tắc cơ bản về phần lớn loại nghệ thuật hoàn toàn thiếu trong phần lớn nhà trường Việt Nam. Hậu quả là gu thẩm mỹ vốn có của nhiều học sinh không được hình thành, khả năng thưởng thức ban sơ không được bổ sung bởi thiếu cơ hội thực hành hay thiếu kiến thức cụ thể.

Nếu chủ nghĩa duy mỹ về cơ bản là nỗ lực nhận ra và nuôi dưỡng cái đẹp dưới tất cả các hình thức của nó, cùng với cố gắng tạo điều kiện cho sự phát triển của tất cả kiểu đẹp thì phải nói nữa về vài ba thử thách lớn.

Mỗi người có hứng thú sống duy mỹ theo đúng nghĩa phải dứt khoát nói không với những tác phẩm nhạt nhẽo của loại “mỹ thuật công nghiệp” được sản xuất đại trà và quần chúng được thúc đẩy mua thông qua việc PR. Không phải mọi sản phẩm của “ngành công nghiệp văn hoá” đều vô vị hay sáo rỗng, cũng không tranh cãi được là một số sản phẩm của nó là đối tượng thích hợp để mua vui vài tiếng đồng hồ, nhưng ai muốn sống trong tinh thần duy mỹ cần phân biệt rõ tác phẩm nào có nội dung và phong cách thật sự nghệ thuật, tác phẩm nào nghèo tưởng tượng mà được bỏ thêm một số đặc tính mỹ thuật quèn với mục đích chính là kiếm tiền cho một tập đoàn lớn nào đó.

Thứ hai là mỗi người nếu muốn giúp cho người khác sống duy mỹ hơn thì hãy quan tâm đến môi trường giáo dục: cổ động cho nền giáo dục về nghệ thuật để nó là phần không thể thiếu của chương trình học ở bất kỳ cấp độ nào. Nghệ thuật hiện thực như hội hoạ, nghệ thuật biểu diễn như kịch nghệ, âm nhạc đã đều là môn học cấp 1, 2 chính đáng ở các nước như Singapore mà Việt Nam có thể lấy làm gương khi nói đến việc cải cách giáo dục. Cũng không có lí do nào học sinh cấp 3 không nên được đào tạo “nghệ thuật phản biện”, tức được khuyến khích bày tỏ ý kiến về những bộ phim, chương trình tivi và các loại “sản phẩm giải trí” họ tiếp cận hằng ngày trên mạng.

Thách thức thứ ba là tạo ra những “mô hình xã hội”, những câu lạc bộ, diễn đàn (ở ngoài đời chứ không chỉ trên mạng) có thể coi là nơi tụ tập để bàn bạc và thưởng thức nghệ thuật chung. Một ví dụ điển hình là phim. Theo tôi được biết, không có thành phố lớn nào ở Việt Nam có “cinemateque”, tức một trung tâm điện ảnh nơi người dân có thể đi xem phim đương đại từ khắp thế giới được những người sành điệu đánh giá cao: kiểu phim mà làm khán giả động não. TpHCM, Hà Nội, Đà Nẵng là các thành phố lớn muốn thu hút những người nước ngoài có tài và trên thực tế ngày càng đa dạng về mặt văn hoá, vì vậy việc thành lập “cinemateque” có vẻ có lợi lớn vừa cho cộng đồng người xa xứ vừa cho văn hoá điện ảnh địa phương.

Về mặt cá nhân thì cũng có vài ba thử thách lớn mà mọi người muốn sống duy mỹ có thể sẽ đối mặt. Ai muốn mở rộng thị hiếu hay năng khiếu của mình thực sự có chiều sâu thì nên ra sức tạo điều kiện phát triển mà cuộc sống đương thời ngày càng thiếu. Trên hết sống duy mỹ cần đến thời gian rảnh và sự yên tĩnh, hay ít nhất một môi trường hợp với việc quan sát, lắng nghe, đọc hiểu và học tập. Hai điều kiện nữa là khả năng cảm thụ và khả năng suy ngẫm mà nhiều phương diện cũng trái ngược nhịp sống đương thời. Sự nhạy cảm đối với nghệ thuật không hẳn là khuynh hướng bẩm sinh, đại khái là lòng cởi mở với nghệ thuật hay khả năng chú ý đến chi tiết có ý nghĩa, mà nhiều phần là thói quen có thể cố ý phát triển. Còn khả năng chiêm ngưỡng có vẻ là điều có cả phần cố ý và không cố ý. Nó liên quan trực tiếp với thói quen xem lại kỹ (nghe, đọc lại kỹ) những tác phẩm ưa thích của mình, chìm đắm vào chúng vào nhiều thời điểm khác nhau, để sắc thái của chúng được phản ánh trong cuộc đời của mình theo cách khác tuỳ theo thời gian, cũng như trái lại để sắc thái của đời mình được phản ánh theo nhiều cách khác nhau trong cách nhìn và hiểu chúng.

Nhưng ai theo chủ nghĩa duy mỹ có lẽ sẽ muốn đi xa hơn nữa nếu tinh thần duy mỹ, như Nietzsche từng nói, không chỉ đơn giản là việc sáng tác hay hưởng thụ tác phẩm nghệ thuật đẹp, mà còn thách thức ta coi thế giới như hiện tượng mỹ thuật. Nếu chủ nghĩa duy mỹ đòi hỏi ta có thái độ phóng khoáng đối với cảnh trước mặt, hay người ngồi đối diện, không những cố gắng áp đặt ý chí lên trên, vội vàng phán xét cái vừa bắt gặp (hay làm lơ nó một cách vô tư vì cặm cụi nghịch điện thoại liên tục) thì nó buộc ta đương đầu với một thử thách lớn nữa.

Suy cho cùng, chủ nghĩa duy mỹ không chủ yếu có nghĩa là xã hội này nọ có một giới nghệ thuật sôi động hay một số nghệ sĩ xuất sắc được nhiều người nhiệt tình hâm mộ. Gu thẩm mỹ đích thị dứt khoát không chỉ chung quy là một cách ăn vận hợp thời; một người có gu thẩm mỹ thật sự chắc chắn sẽ thấy một phụ nữ ăn mặc đẹp mà bước đi lẹp xẹp hoặc một đàn ông điển trai mà có vẻ để quên não ở nhà, vừa thú vị vừa lố lăng cùng lúc.

Thay vào đó nó có nghĩa là mình tự thử thách bản thân trở thành người có cách ăn nói xuôi tai, có phong cách viết văn hay, có cả một cách đi đứng đẹp. Nó bao gồm cả việc trau dồi toàn bộ theo cách riêng của mình.

Nhưng nó cũng không chỉ là điều của riêng mình thôi. “Thẩm mỹ”, “duy mỹ” ở đây cũng có nghĩa là cách cư xử với người khác một cách “đẹp”, hoà nhã, hào phóng, là gác qua một bên những gì mình cần ở họ, những gì mình mong muốn ở họ, khi tiếp xúc.

Nó bao hàm một nhu cầu cao về cái đẹp, nhưng dứt khoát không phải cái đẹp một chiều phổ biến khắp thế giới ngày nay như trong ngành công nghiệp văn hoá hay ngành công nghiệp làm đẹp.

Nói tóm lại, chủ nghĩa duy mỹ là nhu cầu về cái đẹp đa chiều.

Hoặc có thể nói theo kiểu này. Nó là nhu cầu về cái đẹp trên số chiều vô hạn: chính số chiều vô hạn ngay trong trí tưởng tượng do con người mở ra.

(Trạm Đọc, 24/12/2018)


Posted

in

by

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *