Thịt chó ở Việt Nam và ám ảnh phải “đẹp” trong mắt nước ngoài

Zing, 2/9/2018

Không biết đó là vì gia đình tôi không bao giờ nuôi chó khi tôi còn nhỏ.

Không biết đó là vì tôi là người Úc, tức thuộc một dân tộc ăn thịt của con kangaroo là một loại động vật tượng trưng cho nước Úc, thậm chí xuất hiện trên bìa hộ chiếu.

Cũng có thể là vì khi lớn lên tôi học môn xã hội học, được giáo sư nhắc nhở rằng không nên phán xét vội vàng những người có văn hoá khác, không nên máy móc chê họ “thiếu văn minh” chỉ vì thoạt nhìn phong tục của họ có vẻ trái ngược với tập quán của nước nhà.

Vì lí do nào tôi không rõ, lần đầu tiên tôi đến Việt Nam tôi đồng ý, không phân vân nhiều, khi một người bạn Việt gốc Bắc tên Dũng mời tôi đi nhậu “theo kiểu Hà Nội”, tức ăn thịt cầy, uống rượu đế, ở tpHCM.

Tôi đã thử và thú thật mà nói, tôi đã thích. Từ đó tôi lâu lâu đi ăn tiếp với mấy người Việt Nam khác, có bạn người Bắc, cũng có bạn thì người Nam. Đến Hà Nội chơi 3, 4 lần, nhưng tôi chỉ thử ăn thịt cầy ở thủ đô một lần, mặc dù tôi được khá nhiều người miền Bắc, cả nam và nữ, cả người bình thường và những người học cao, mời ăn thịt chó đặc biệt ngon của quê họ.

Năm đó tôi về nước để chuẩn bị sang Việt Nam ở, tôi đã đi khám với một bác sĩ người Úc, hỏi thăm việc ăn thịt cầy tốt hay không tốt cho sức khoẻ. Biết tôi là người da trắng gốc Úc- u đã ăn thử thịt chó, bác sĩ không hề nhìn tôi như người điên, người đã mang lại sự ô nhục cho nước Úc hay bị phong cách man rợ của một nền văn hoá xa lạ cám dỗ. Việc sử dụng thịt chó làm thực phẩm (theo lời khuyên của cô ấy) không có ảnh hưởng đặc biệt tiêu cực đến sức khoẻ con người. Vì nó chứa nhiều chất đạm, nên người tiêu thụ cần hạn chế số lượng ăn và, trước hết, phải chắc chắn thịt mình sắp ăn đã được nấu chín. Ăn thịt heo ở các nước Đông Nam Á cũng vậy.

Tôi đã chuyển đến tpHCM như ý định, cũng lâu lâu nhận lời mời “đi nhậu kiểu Hà Nội” với một số bạn Việt Nam, cũng lâu lâu suy nghĩ lại hành vi của mình. Tôi nghe một số bạn người Việt nói về cách người ta đánh bả chó để bắt và bán lại cho người buôn thịt, cũng như chuyện nhiều con chó được bán lấy thịt vốn là thú cưng bị bắt cắp trắng trợn.

Tôi không phải kiểu người không quan tâm đến cách cư xử nhẹ nhàng với động vật. Từ khi đến Việt Nam ở, tôi đã xem thử kiểu clip thỉnh thoảng xuất hiện trên mạng chỉ rõ cách dã man người ta nhồi nhét gà công nghiệp vào chuồng nhỏ đến độ gần như không nhúc nhích được, cách hung tợn người ta giết bò ở nông thôn [[tức bằng cách không thể tàn bạo hơn là đập vào đầu con thú bằng vật nặng và cùn đến khi chết, chắc trong nỗi đau tột cùng, sau vài tiếng đồng hồ]]. Từ tài liệu đó tôi kết luận, việc ăn thịt động vật ở Việt Nam luôn có gì đáng ngờ. Không chỉ nói riêng gì người ăn thịt cầy, mà còn những người sử dụng thịt bò, gà, heo, khó có thể chắc được thịt mà họ đang tiêu thụ có từ con vật được nuôi, giữ và giết mổ một cách giảm thiểu nỗi đau cho động vật trước và trong khi chết. Vì tôi hình như không có khả năng ăn chay trường, nên tôi tiếp tục ăn tất cả loại thịt với hy vọng mơ hồ rằng cơ quan chức năng có thể siết chặt kiểm soát các quy trình sản xuất thịt. Nhưng đối với riêng con chó hình như tôi có thái độ của phần lớn người Việt. Có thể tóm tắt lại thế này: tôi có thể thân thiết với chó, tôi nhất định phản đối chuyện chúng bị cư xử một cách man rợ, nhưng tôi vẫn coi thịt chó như thịt loại động vật khác.

*

Theo Chi Cục Trưởng Thú Y Hà Nội, “vào khoảng 2021 sẽ cấm bán thịt chó ở các quận nội thành Hà Nội. Đây là những khu vực trung tâm, có đông du khách quốc tế nên cần làm trước.”

Theo như trích dẫn thì một trong những lí do chính chính quyền Hà Nội nghĩ việc cấm đoán buôn bán thịt chó cần thiết là vì nó gây phản cảm với người nước ngoài.

Theo tôi đó mới là điểm yếu nhất trong đề xuất của Chi Cục Trưởng Thú Y.

Đề nghị hình như cho rằng Hà Nội nên dẹp bỏ một tập quán được nhiều người ưa thích với mục đích chính là ghi điểm với những người từ xa đến. Nó cho rằng người nước ngoài có quan điểm “văn minh” đối với động vật vì họ không sử dụng thịt chó làm thực phẩm, ngụ ý nữa là những người Việt tránh ăn thịt chó văn minh hơn những người có ăn. Trái lại với quan điểm này, tiếp cận vấn đề một cách cân bằng hơn, cứ cho rằng theo văn hoá của người Việt, một người có thể thân thiết với con chó đến đâu chăng nữa, vẫn có thể coi thịt chó như thịt bò hay thịt của động vật khác. Đó là cách nhìn mà người Việt không cần phải xấu hổ.

Nói đến văn hoá ẩm thực, theo tôi chỉ có một điều duy nhất người Việt cần học theo người nước ngoài. Họ cần sẵn lòng bảo vệ thói quen ăn uống của mình trừ khi có lý do chính đáng để từ bỏ. Đừng tự ti chỉ vì thói quen hay tập quán của mình lạ thường trong mắt của người từ xa đến.

Thái độ của người nước ngoài đối với văn hoá ẩm thực không đơn giản như một số người Việt Nam tưởng. Người Pháp không ngừng phục vụ thịt ngựa, một món đặc sản của thủ đô Paris, để chỉ làm vừa lòng du khách quốc tế mà từ xa xưa coi ngựa như là “con thú quý phái nhất.” Tương tự, người Úc không cấm đoán kinh doanh thịt chuột túi, mặc dù động vật này có một sức hấp dẫn trong mắt của rất nhiều người nước ngoài và khá nhiều người địa phương nữa. Tưởng tượng người New York sẽ phản ứng thế nào nếu có ai góp ý họ nên dừng việc bán hotdogs bởi việc tiêu thụ thịt heo là chuyện nhạy cảm đối với người theo đạo Hồi hay Do Thái. Theo tôi, Việt Nam có thể kiên trì với văn hoá ẩm thực của mình chính vì lí do mà người Pháp, Úc và Mỹ đã làm: vì tập quán ăn thịt cầy có nguồn gốc trong một nền văn hoá chính thống khác, chứ không phải xuất phát từ một trình độ văn minh thấp.

Một câu hỏi quan trọng ở đây là thái độ của người nước ngoài đối với thói quen ăn thịt cầy của người Việt là gì chính xác? Trong sáu năm ở Việt Nam, tôi đã đọc nhiều bài blog, cả một số tiểu tuyết và hồi ký của khách du lịch, viết về những trải nghiệm của họ ở Việt Nam. Tất nhiên có một số người chê bai cách người Việt cư xử dã man với chó, tỏ ra khó chịu khi đi ngang qua quán bán thịt chó hoặc nhận ra thịt mà người ta đang bán là thịt gì. Chắc chắn có ít người Tây sẵn sàng ăn thử thịt cầy như tôi. Nhưng cũng có ít người kêu gọi người Việt cấm đoán việc buôn bán thịt cầy vì hành động này vi phạm tiêu chuẩn văn minh không thể tranh cãi được của họ.

Một điều nữa tôi khá chắc là phần lớn người Tây sẽ có phản ứng cho hành động độc ác đối với mọi loài động vật, chứ không chỉ đối với con chó. Ý tôi là, trong khi một số người nước ngoài không tài nào chấp nhận được thói quen ăn thịt chó vì họ đến từ một nền văn hoá coi chó như thú cưng và không tưởng tượng được có người nào đó có góc nhìn khác, thì tôi đoán hầu hết tất cả mọi người Tây sẽ phản đối cách cư xử dã man với động vật khá phổ biến ở Việt Nam. Vì vậy nếu người Hà Nội muốn cải thiện hình ảnh của thủ đô trong mắt người nước ngoài, thì việc nên làm là nỗ lực quản lý toàn bộ ngành sản xuất thịt, kiểm tra nơi người ta nuôi động vật để lấy thịt, kiểm soát cơ sở giết mổ và cố gắng dẹp bỏ hành động thực sự thiếu ý thức, không chấp nhận được.

Lí do thứ nhất tôi thấy đề nghị nên cấm đoán kinh doanh thịt cầy ở thủ đô không hợp lý là nó không giải quyết được vấn đề chính.

*

Thứ đến, theo UBND Hà Nội, việc kinh doanh và tiêu thụ thịt chó không chỉ “làm ảnh hưởng đến hình ảnh của một Thủ đô văn minh, hiện đại”, nó xứng đáng để bị cấm đoán vì “còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe cho con người.”

Nghe như có cuộc khủng hoảng y tế lớn như vụ tử vong hàng loạt liên quan đến việc xơi thịt cầy. Nhưng có thực sự là như vậy không?

Mặc dù có nguy cơ nhất định cho sức khoẻ con người liên quan đến việc ăn thịt cầy, nhưng hình như điều đó bị một số người phóng đại; ai đọc kỹ tài liệu y tế liên quan thì thấy khó có thể kết luận rằng thịt chó mang rủi ro cao đến độ cần có đề xuất cấm đoán kinh doanh. Nói tóm lại việc quản lý kinh doanh, giết mổ và tiêu thụ thịt chó chặt chẽ hơn không những sẽ bớt đi mặt xấu của tập quán này trong mắt người nước ngoài, nó rõ ràng sẽ giúp cho thịt chó người ta bán có đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Nếu nó đi cùng với chiến dịch nâng cao ý thức người dân về nguy cơ tiềm ẩn cho sức khoẻ liên quan đến việc xơi thịt cầy, động viên người dân ăn thịt cầy có đề phòng, có chừng mực, thì hậu quả tiềm ẩn của nó có thể được giảm thiểu.

Vấn đề thứ nhất được bàn bạc trong tài liệu y tế là chất độc thỉnh thoảng được sử dùng để đánh bả chó chứa độc tố có thể có tác động tiêu cực đến cơ thể người ăn. Thứ hai là, con chó, như con heo, là loại động vật ăn tạp nên nguy cơ người ăn thịt của nó bị nhiễm một số loại giun, sán cao hơn so với các loại thịt của động vật chỉ ăn cỏ. Thứ ba, một loại bệnh đặc biệt nguy hiểm ở chó là bệnh dại, có thể sẽ lây nhiễm cho người giết mổ, thậm chí người tiêu thụ. Thứ tư, có bằng chứng những người ăn quá nhiều thịt cầy hay ăn trong thời gian dài có dấu hiệu gia tăng nguy cơ bị xơ gan hay suy thận. Cuối cùng vì thịt cầy có tác dụng bổ dưỡng mạnh, chuyên gia y tế khuyên người lớn tuổi hoặc người mắc bệnh huyết áp nên hạn chế hay tránh ăn thịt chó.

Những điều nêu trên không tranh cãi được, nhưng tất cả các vấn đề này có cách giải quyết, nguy cơ cho sức khoẻ con người từ việc tiêu thụ thịt cầy có thể được giảm xuống đến mức độ chấp nhận được. Hành vi độc ác, bất hợp pháp, ăn trộm chó của người ta bằng cách đánh bả mà có hậu quả cho sức khoẻ con người và chắc đại đa số người ăn thịt cầy không tán thành là điều mà theo tôi nhà chức trách phải có biện pháp mạnh mẽ để loại bỏ; nó là một trong những lí do chính mà việc nuôi chó cho lấy thịt cần được chính thức hoá và kiểm soát chặt chẽ. Hơn nữa, như lời bác sĩ Úc từng khuyên tôi, cách phòng ngừa hiệu quả để tránh mắc những loại bệnh lây nhiễm, không những khi ăn thịt chó mà còn khi ăn các loại thịt, là bảo đảm rằng thực phẩm đã được nấu chín; bệnh dại là trường hợp tương tự.

Tình hình sức khoẻ có thể bị việc ăn quá nhiều thịt cầy làm thêm trầm trọng có thể được ngăn ngừa hoặc giảm hậu quả, ví dụ ở người cao niên, nếu quần chúng được cung cấp đủ thông tin bởi giới y tế và cơ quan chức năng. Còn những người mắc bệnh vì “nghiện” thịt chó đã lâu cần được khuyên ăn có chừng mực hoặc “cai nghiện”. Tương đương với trường hợp của việc tiêu thụ rượu bia, không có xã hội hiện đại nào nghĩ đến việc cấm đoán chỉ vì một số người tiêu thụ quá mức hay uống đến độ mắc bệnh. Phương châm cổ điển cứ cho rằng chúng ta không cần đến biện pháp quyết liệt, trừ khi gặp trường hợp khẩn cấp. Một cái nhìn lí trí vào cuộc nghiên cứu y khoa cho thấy rõ ràng thói quen ăn thịt cầy không dẫn đến cuộc khủng hoảng y tế nào, hoặc ở Hà Nội hoặc ở Việt Nam nói chung.

Nếu hậu quả thông thường nhất của việc xơi thịt cầy là chướng bụng hay tiêu chảy sau khi ăn thì đề xuất cấm đoán kinh doanh thịt chó vì lí do sức khoẻ dân chúng nghe có vẻ thái quá.

*

Khác với khuyến cáo của Chi Cục Thú Y đề cao sự nhạy cảm của người nước ngoài và sức khoẻ dân chúng để biện minh cho chính sách cấm đoán bán thịt chó, tôi đoán đại đa số người chống lại thói quen dân gian ăn thịt chó chủ yếu vì phản đối kiểu độc ác con chó bị bắt, giữ, vận chuyển và giết để lấy thịt; cũng có thể đó là lí do họ hay chụp cái mũ “thiếu văn minh” cho người khác.

Một lần nữa, nguyên nhân chính của vấn đề này là việc kinh doanh chó để lấy thịt chưa được quan sát đủ bài bản. Nhưng rõ ràng vấn đề này không phải khuyết điểm duy nhất chỉ xảy ra trong kinh doanh chó lấy thịt, nó là vấn đề lớn ngành sản xuất thịt Việt Nam phải đối phó, không muốn nói là cả ngành công nghiệp thực phẩm. Chính vì vậy việc cấm đoán kinh doanh chó lấy thịt không phải cách giải quyết hợp lí. Muốn cải thiện tình hình, người Việt Nam nói chung và nhà chức trách nói riêng cần nỗ lực điều tiết thị trường buôn bán cả chó lẫn các loại động vật khác, vừa để bảo đảm an toàn thực phẩm, vừa để chắc chắn không có chó, bò, gà hay gia cầm gia súc nào nữa bị đối xử tàn tệ như ngày nay.

Những người Việt muốn Hà Nội, hay cả Việt Nam, có chính sách cân bằng có thể ủng hộ đề xuất của chính quyền địa phương của thủ đô Hàn Quốc, thành phố Seoul – nơi nổi tiếng có nhiều người ăn thịt cầy và nhiều tranh luận ý kiến khốc liệt về tập quán này – muốn đưa thịt cầy vào danh sách chính thức của những loại thịt được sản xuất theo kiểu công nghiệp dưới sự giám sát kỹ lưỡng của nhà chức trách y tế. Khuyến cáo này đầy hứa hẹn vì nó sẽ giúp cho nguồn cung dồi dào, với hiệu quả là làm giảm mạnh giá của những con chó bị bắt bất hợp pháp để buôn bán. Khi được thực hiện bài bản nó có thể khiến cho việc trộm với mục đích buôn bán kiếm tiền có thể bị dẹp bỏ. (Rất tiếc ở Seoul nó bị chính những nhà hoạt động chống lại việc ăn thịt cầy bác bỏ.)

Theo tôi hiểu, phần lớn những người Việt chống lại thói quen tiêu thụ thịt chó [mà không lo lắng quá nhiều về hình ảnh của thủ đô trong mắt người nước ngoài] là vì lí do cá nhân, chủ yếu vì quan niệm loài chó thân thiết với con người. Một số người Việt Nam theo đạo Phật từng nói với tôi họ thấy chó có mối liên kết tinh thần với con người. Còn một số người khác lý luận rằng chó thông minh hơn hay có độ nhạy cao hơn các loại động vật khác. Cách suy nghĩ này là lí do chính đáng để những người này không tiêu thụ thịt chó, tránh xa quán thịt chó, động viên cơ quan nhà nước giám sát việc kinh doanh thịt chó, ngăn cản tất cả hành động man rợ liên quan. Nhưng tính nhạy cảm cá nhân của một số người không thể bào chữa cho việc cấm đoán kinh doanh thịt chó nói chung vì việc tiêu thụ thịt chó là thói quen của quần chúng và việc cấm đoán thói quen được nhiều người ưa chuộng phải có lý lẽ mạnh mẽ hơn cảm xúc cá nhân của một số người.

Bà ngoại người Ý của tôi từng nuôi gà, tôi tiếp xúc nhiều với gà khi lớn lên, thấy gắn bó với gà hơn chó nhiều, nhưng tôi không thể lấy cớ tôi quyến luyến với con gà để yêu cầu người khác không sử dụng thịt gà như thực phẩm. Bạn Việt Nam tôi đã từng nuôi heo ở quê cũng vậy – và cuộc nghiên cứu khoa học cho thấy con heo thông minh và nhạy cảm hơn cả gà và chó. Hoặc tương tự, ai bận tâm đến hậu quả của thói quen tiêu thụ bia rượu quá mức, khó chịu với cách cư xử của những người nhậu đến độ say xỉn, có thể tự uống có chừng mực hay từ bỏ không uống nữa, thậm chí giúp người ta nâng cao nhận thức về mối nguy hiểm của việc uống quá nhiều. Còn việc yêu cầu người ta cấm bán rượu bia thì lại khác.

Nói chung, khuyến cáo cấm đoán một số dạng tiêu thụ, đặc biệt là dạng tiêu thụ có nguồn gốc trong văn hoá dân gian lâu đời như thói quen sử dụng thịt chó như thực phẩm, là đề nghị không hợp lý, có khả năng cao sẽ phản tác dụng. Khi dạng tiêu thụ có hại chủ yếu đến người tiêu dùng, như trong trường hợp những người uống bia quá mức, hoặc khi nó có hại được số đông dư luận chấp nhận – và việc tiêu thụ thịt của động vật, nhất thiết gây hại cho động vật bị giết mổ để lấy thịt, là một ví dụ điển hình – thì việc lựa chọn một thói quen tiêu thụ phổ biến, gán cho nó cái mác “thói hư” hoặc “thiếu văn minh” rồi tuyên truyền nhằm mục đích cấm đoán nó là điều quá đáng.

Thay vào đó vấn đề cần được đánh giá từ một góc nhìn thực tế hơn hẳn. Nếu tranh chấp ở đây xuất phát từ sự bất đồng ý kiến giữa những người theo văn hoá Việt Nam nuôi chó như gia súc (mặc dù vẫn có thể gắn bó với chó) và những người theo văn hoá phương Tây có xu hướng nuôi chó như thú cưng, thì cách hoà hợp lại quan điểm hay nhất là có biện pháp bảo đảm rằng hành vi của những người thuộc từng nhóm văn hoá một không xâm phạm đến lối sống của những người thuộc nhóm văn hoá khác.

Tôi cứ cho rằng cả hai bên có thể đồng ý rằng biện pháp giảm thiểu sự đau đớn gây ra cho động vật được nuôi và giết mổ để lấy thịt là cần thiết. Thậm chí có thể coi cái này như tiêu chuẩn “văn minh” chung mà được hai bên tán thành và thực hiện

*

Cuối cùng là một câu chuyện hơi trớ trêu. (Tôi đoán là những nhà hoạt động chống lại việc ăn thịt cầy không thấy nó hay chút nào.)

Lần gần đây nhất tôi đi ăn thịt cầy với bạn Dũng, độ 3, 4 tháng trước, chúng tôi đi một quán đông khách ở q7, tpHCM. Có lúc Dũng để ly rượu đế xuống bàn, nhờ tôi để ý đến cuộc nói chuyện của những người xung quanh. Tôi nghe thử. Không thấy gì đáng chú ý, chỉ là cuộc tám chuyện vui nhộn, thỉnh thoảng bị tiếng cười hềnh hệch ngắt quãng. Cuộc đối thoại giữa tôi và Dũng diễn ra đại khái như sau:

Tôi: Chuyện gì vậy?

Dũng: Anh không nghe thấy người ta nói với giọng nào ở đây hả?

Tôi: Giọng nào?

Dũng: Toàn là người miền Nam đang thưởng thức món thịt cầy này. Trừ em ra không có dân Bắc nào ở đây cả.

Tôi: Vậy hả?

Hình như trong khi một số người Hà Nội đang bận tâm chuyện ấn tượng họ gây cho người nước ngoài đủ “văn minh, hiện đại” hay không, thì tập quán thủ đô đang được một số người Sài Gòn ngày càng ưa thích.

Theo tôi chuyện Hà Nội, Sài Gòn hay ở đâu tiếp tục ăn thịt cầy là chuyện chấp nhận được, miễn là cơ quan nhà nước tìm được cách cải thiện việc kinh doanh thịt động vật này – một là để dẹp bỏ sự đau đớn và độc ác liên quan đến việc kinh doanh, giết mổ chó lấy thịt; hai là để bảo đảm an toàn thực phẩm; ba là để thói quen của số đông người Việt nuôi chó như gia súc không ảnh hưởng đến số người còn lại có xu hướng nuôi chó làm thú cưng.

Chuyện người Sài Gòn lâu lâu ăn thịt cầy, nếu không vui thì đối với tôi ít nhất không buồn. Nếu Hà Nội cố chấp muốn cấm người dân ăn thịt chó thì ít nhất người dân Sài Gòn có thể kiên trì với một chính sách tự do hơn, không bị quan điểm của người nước ngoài định đoạt.


Posted

in

by

Tags:

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *